1. Giun đũa (Ascaris lumbiricoides)

Giun đũa tròn màu hồng chiều dài 15 – 25 cm.

Giun đũa trưởng thành sống 12 – 18 tháng ở hỗng tràng, giun cái đẻ trứng hàng ngày, trứng theo phân ra ngoài. Sau 15 ngày trứng có phôi và có thể tồn tại lâu bên ngoài. Trứng có phôi qua đường miệng vào ruột non trở thành ấu trùng chui vào tĩnh mạch lên phổi chui qua phế nang vào ngày thứ 8 bò lên phế quản rồi được nuốt vào ruột non và lúc đó mới trở thành giun trưởng thành. Sau 2 tháng giun đũa cái bắt đầu đẻ trứng.

1.1. Triệu chứng lâm sàng

Quá trình di chuyển của ấu trùng và giun cư trú ở ruột thường không có triệu chứng rõ rệt đặc hiệu.

* Hô hấp

Khi ấu trùng qua phổi gây hội chứng Loeffler. Trẻ sốt nhẹ 37,8 – 38 độ C, đau ngực, ho húng hắng, ho cơn, đau ngực như cúm. Nghe phổi không có biểu hiện gì đặc biệt. Ngược lại chụp Xquang phổi xuất hiện nhiều vùng mờ thâm nhiễm ranh giới không rõ rệt mất đi hoàn toàn sau vài ngày không để lại dấu vết (thâm nhiễm mau bay). Xét nghiệm bạch cầu ái toan tăng cao.

* Tiêu hóa

Phần nhiều không gây triệu chứng gì rõ rệt, tuy nhiên có thể gặp một số triệu chứng tiêu hóa.

- Đau bụng: đau quanh rốn, đột ngột không rõ nguyên nhân rõ rệt, chóng khỏi, đau âm ỉ.

- Rối loạn tiêu hóa: không biến đổi, chậm tiêu hay ứa nước bọt, rối loạn tiêu hóa, ăn không ngon miệng.

- Tống giun ra ngoài: thấy trẻ ỉa ra giun hoặc nôn ra giun.

* Những biến chứng gây nên khi giun quá nhiều

Thường do yếu tố cơ học, di chuyển lạc chỗ hoặc cuốn lấy nhau thành từng búi hàng trăm con gây tắc.

- Ruột: gây tắc ruột, bán tắc ruột, viêm phúc mạc do thủng ruột, lồng ruột.

- Gan tụy mật: gây giun chui ống mật, viêm đường mật, áp xe gan do giun, sỏi mật, viêm tụy cấp, chảy máu đường mật. 

- Giun lạc chỗ: ấu trùng trong quá trình di chuyển theo đường máu cư chú ở những chỗ bất thường như da, não, cơ, tim...

Chiếm chất dinh dưỡng: cơ thể suy yếu dần, đề kháng kém, tình trạng suy dinh dưỡng tiến triển âm thầm làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực của trẻ em. Bình quân cứ 3 con giun đũa một ngày ăn 3g protein nguyên chất (tương đương khoảng 20g thịt bò).

1.2. Chẩn đoán

- Giai đoạn ấu trùng di chuyển: tăng bạch cầu ái toan trong máu, huyết thanh chẩn đoán dương tính.

- Giun có mặt ở ruột: nôn hoặc ỉa ra giun, tìm trứng giun trong phân, có thể đếm số trứng trong một gam phân, bạch cầu ái toan trở về bình thường.

- Các biến chứng do giun gây nên phải dựa vào triệu chứng có giá trị chẩn đoán.

1.3. Điều trị

Điều trị toàn dân định kỳ 4 - 6 tháng một lần trong nhiều năm liên tục bắt đầu từ khi trẻ được tròn 12 tháng, không điều trị cho phụ nữ có thai 3 tháng đầu, người đang bị bệnh cấp tính, những người có tiền sử mẫn cảm với thuốc hoặc suy gan, suy thận.

* Nhiễm giun đũa đơn thuần: 

- Menbedazol 500mg liều duy nhất, hoặc Albendazole 400mg liều duy nhất hoặc 

- Pyrantel pamoat: có tác dụng trên cả giun đũa, giun móc và giun kim. 10 mg/kg tối đa là 1g/24 giờ uống 1 lần, có thể nhắc lại sau 1 tuần. 

* Nhiễm giun đũa phối hợp giun móc: 

- Menbedazol 500mg/ngày x 3 ngày hoặc Albendazole 400mg/ngày x 3 ngày hoặc 

- Pyrantel pamoat 10 mg/kg/ngày x 3 ngày.

2. Giun kim (Enterobius Vermiculairs)

Bệnh giun kim phổ biến hay gặp ở trẻ nhỏ, dễ lây lan trong các vườn trẻ và trong gia đình.

- Giun kim là một loại giun nhỏ trắng dài 10mm, cư trú ở hồi manh tràng và đại tràng. Giun kim cái chứa 11.000 trứng ban đêm ra các nếp hậu môn đẻ trứng, sau 6 giờ trứng có ấu trùng và lan truyền từ hậu môn vào miệng qua bàn tay, quần áo, ga chải giường.

- Trứng có ấu trùng đi vào tá tràng xuống ruột phát triển nhanh thành giun trưởng thành sau 36 – 53 ngày. Đời sống giun kim ngắn chỉ 11 – 35 ngày.

- Khi ở trong ruột giun kim có thể gây những tổn thương kích thích niêm mạc ruột, làm rối loạn tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruột mạn tính, có thể gây nổi mẩn dị ứng. Nếu giun kim chiu vào ruột thừa có thể gây viêm ruột thừa. Cá biệt có khi giun kim chui sang bộ phận sinh dục gây viêm ngứa âm đạo, rối loạn kinh nguyệt ở trẻ gái và phụ nữ. Trẻ em bị mắc bệnh giun kim nhiều năm sẽ ảnh hưởng đến khả năng lớn của cơ thể, trẻ gầy xanh, bụng ỏng, kém ăn. Thời gian từ khi nuốt phải trứng giai đoạn nhiễm đến khi phát triển thành con trưởng thành và đẻ trứng khoảng 1 tháng. Giun trưởng thành có thể sống khoảng 2 tháng. Ban đêm giun cái có trứng di chuyển đến hậu môn và đẻ trứng ở các nếp nhăn quanh hậu môn.

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Có thể gặp đầy đủ các triệu chứng hoặc chỉ có 1 - 2 triệu chứng.

* Ngứa hậu môn

Ngứa có giờ nhất định, sau khi ngủ một thời gian ngắn. Ngữa dữ dội, trẻ khóc thét vào giờ nhất định. Do ngứa trẻ gái làm xây xát hậu môn, nhiễm trùng.

Khám: hậu môn sung huyết, có chấm đỏ nhỏ do giun kim cắn. Khi trẻ khóc có thể thấy giun kim bò ra ở hậu môn.

* Rối loạn tiêu hóa

Trẻ ỉa nhiều lần trong ngày, buổi sáng ở hậu môn có thể có chất nhầy màu hồng, phân khi lỏng, khi sền sệt, có nhiều giun kim.

* Thần kinh

Trẻ hay quấy khóc, ít hoặc bú hay nghiến răng.

2.2. Xét nghiệm

Có thể xem phân tìm giun kim ngay sau khi trẻ mới ỉa hoặc bắt giun cái ở hậu môn buổi tối khi trẻ ngứa.

Dùng giấy bóng kính dán vào hậu môn vào buổi sáng sau đó dán lên lam kính và soi ngay tìm trứng giun kim. Tìm trứng giun kim trong phân thường khó hơn trứng giun đũa. Một lần phát hiện được 50%, 3 lần phát hiện được 90%, 5 lần phát hiện 99%.

2.3. Điều trị

* Nguyên tắc:

Điều trị phải kết hợp chặt chẽ với phòng bệnh để tránh tái nhiễm.

Với các tập thể nhiễm giun cao cần điều trị hàng loạt để chống tái nhiễm.

Vì giun kim có tuổi thọ ngắn (1 - 2 tháng trong ruột) nên nếu chống bệnh tự nhiễm một cách tích cực thì có thể không cần dùng thuốc, bệnh cũng tự khỏi.

* Các phương pháp điều trị:

Điều trị những người bị nhiễm giun kim và tập thể chung sống với người nhiễm.

Menbendazol 500mg, liều duy nhất cho cả người lớn và trẻ em. Điều trị nhắc lại sau một tháng với liều như trên.

3. PHÒNG BỆNH

- Xử trí phân đúng quy cách: dùng hố xí hai ngăn, thời gian ủ phân đảm bảo sẽ tiêu diệt hết trùng và ấu trùng giun, hố xí tự hoại

- Không dùng phân tươi bón cây, rau, quả gây ô nhiễm môi trường đất, nước

- Xây dựng tập quán vệ sinh:

+ Rửa tay sạch sau khi đại tiện, trước khi ăn, làm thức ăn cho trẻ

+ Ăn chín, uống sôi, nguồn nước đảm bảo vệ sinh

- Tẩy giun định kỳ cho trẻ em từ 3 -6 tháng 1 lần.

- Nên bắt đầu tẩy giun cho trẻ lần đầu khi trẻ được đủ 12 tháng.

* Với nhiễm giun kim:

- Rửa hậu môn cho trẻ vào buổi sáng và buổi tối.

- Không nên để trẻ mặc quần thủng đít hoặc không mặc quần.

- Không để trẻ chơi lê la ở nền đất bẩn.

- Giữ sạch tay, cắt ngắn móng tay.

- Quần áo giường chiếu phơi nắng thường xuyên.

J.T.B

Tin bài liên quan:

Đặc điểm hệ tiêu hóa ở trẻ em

Bệnh giun sán ở trẻ em

Lỵ amip

Lỵ trực khuẩn