1. Định nghĩa thừa cân, béo phì

* Có nhiều khái niệm về thừa cân, béo phì

- Béo phì là tình trạng tích trữ bất thường hoặc dư thừa mỡ trong mô mỡ đến mức độ làm cho sức khoẻ có thể bị suy giảm.

- Béo phì là sự dư thừa toàn bộ trọng lượng mỡ hoặc mỡ dự trữ của cơ thể.

* Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định nghĩa thừa cân, béo phì như sau

- Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng  nên có so với chiều cao

- Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. 

* Do vậy khi đánh giá thừa cân, béo phì thì không chỉ tính đến cân nặng mà phải quan tâm đến chiều cao và tỷ lệ mỡ của cơ thể

2. Dịch tễ học bệnh béo phì ở trẻ em

Béo phì đang tăng lên ở mức báo động trong những năm gần đây và cũng đang là một thách thức với nền y tế toàn cầu, đặc biệt với những nước phát triển. 

Tần suất béo phì khác nhau ở các lứa tuổi, có 10-30% béo phì ở trẻ < 12 tháng, 5-15% béo phì ở trẻ < 12 tuổi, 10-30% béo phì ở trẻ 13-19 tuổi.

Béo phì trẻ em không chỉ chiếm tỷ lệ cao ở các nước phát triển mà còn ở cả những nước đang phát triển. Hơn 30% dân số ở Mỹ La tinh, Caribe, Trung Đông và Bắc Phi bị thừa cân. Ở Trung Quốc cũng có khoảng 10% trẻ em béo phì ở tuổi học đường. 

Việt Nam là một nước đang phát triển nên tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao. Song hiện nay kinh tế nước ta đang tăng trưởng nhanh do sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ chế mở cửa nên tỷ lệ trẻ bị béo phì cũng có xu hướng tăng lên. Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ thừa cân ở trẻ < 5 tuổi nước ta là 0,6 - 0,7%, cao nhất là ở thành thị chiếm 1,9%. Tỷ lệ béo phì tăng dần theo tuổi: 6-7 tuổi là 3,4%; 8-11 tuổi là 4,4%. 

Sự gia tăng nhanh chóng của béo phì trẻ em là một sự báo động về sự tăng tỷ lệ béo phì ở người lớn, kéo theo hàng loạt những hậu quả của nó như việc gây tăng các bệnh mãn tính và sự thiệt hại lớn về kinh tế.

3. Nguyên nhân gây béo phì trẻ em

3.1. Do yếu tố gia đình

Tiền sử gia đình là yếu tố quan trọng trong các yếu tố nguy cơ của béo phì trẻ em. Khi cha mẹ béo phì thì tỷ lệ con cái béo phì rất cao.

Khoảng 80% trẻ béo phì nặng có một hoặc cả bố và mẹ béo phì và khoảng 30% có cả bố và mẹ béo phì.

Béo phì thường do yếu tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền. Theo Bouchard có 23 gen liên quan đến mức độ béo lên hay giảm đi, ví dụ gen Lipoprotein lipase và Hydroxysteroit dehydrogenase. Một loại gen được nghiên cứu nhiều hơn là "gen béo" mà gen này sản xuất ra Leptin. Gần đây người ta còn phát hiện ra gen của  “hormone đói" gọi là Ghrelin phần lớn được sản xuất ở dạ dày có vai trò rất lớn trong bệnh béo phì. 

3.2. Do cân nặng sơ sinh cao

Có nhiều ý kiến khác nhau về mối liên quan giữa cân nặng lúc đẻ với béo phì. Khảo sát 100 trẻ béo phì tới khám ở một phòng khám béo phì ở Liverpool từ 1990-1992 thấy cân nặng lúc đẻ trung bình là 3,4kg tương đương với cân nặng lúc đẻ trung bình của trẻ đủ tháng ở Anh. Nhưng Locard và CS (1992) lại thấy rằng cân nặng lúc đẻ là một yếu tố có tác động tới béo phì lúc 5 tuổi. Callaghan MJ và CS (1997) nghiên cứu trên 4062 trường hợp ở Australia trong 5 năm cho thấy cân nặng lúc đẻ là một yếu tố dự đoán cho béo phì vừa và nặng. Ở Việt Nam, thấy cân nặng khi sinh của trẻ thừa cân cao hơn trẻ bình thường, trẻ có cân nặng khi sinh càng cao thì nguy cơ thừa cân càng lớn.

3.3. Do ăn uống 

Một số cá nhân có thể ăn uống quá độ hoặc khẩu phần mất cân đối dẫn đến tăng cân. Các nghiên cứu cho rằng chỉ cần ăn dư 70 calo/ ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số calo nhỏ này không được nhận ra dễ dàng nhất là khi trẻ ăn thức ăn nhiều năng lượng. Mỡ có đậm độ năng lượng cao gấp 2 lần đường lại cần ít calo hơn để dự trữ dưới dạng triglycerid trong khi đường cần năng lượng để chuyển thành axit béo tự do trước khi dự trữ. Vì vậy một khẩu phần nhiều mỡ cho dù số lượng nhỏ cũng có thể gây thừa calo và tăng cân. Nghiên cứu của Lê Thị Hải và Trần Thị Hồng Loan cho thấy khẩu phần ăn (tổng năng lượng) của nhóm béo phì hơn hẳn nhóm chứng và tỷ lệ lipit trong khẩu phần ăn cũng cao hơn rõ rệt. Kết quả nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu, Lê Quang Hùng và Nguyễn Thị Thu Hiền cũng cho thấy khẩu phần protein - năng lượng của nhóm trẻ béo phì cao hơn hẳn so với nhu cầu đề nghị. 

Trong một số hoàn cảnh như khi trẻ nghỉ ngơi ở nhà thường dễ kết hợp với tăng tiêu thụ thức ăn. Cảm giác đói được chịu đựng kém hơn ở những trẻ buồn chán, ít bạn bè, ít sở thích so với những trẻ bận rộn và năng động nên chúng thường ăn nhiều hơn.

Hiện nay ở những nước châu Á cấu trúc chế độ ăn hàng ngày đang thay đổi rất nhanh, có rất nhiều thức ăn chế biến sẵn có đậm độ năng lượng và mỡ cao, chất pha ngọt cao, hợp khẩu vị trẻ em và thuận tiện như snack, xúc xích...hoặc các thức ăn chỉ có cacbonhydrate ở dạng tinh chế dễ tiêu thụ và làm giảm cơ chế no bình thường do đó dễ làm cho trẻ bị béo phì. Ngược lại, các thức ăn như ngũ cốc, hoa quả, rau đòi hỏi phải nhai làm cho thời gian ăn lâu hơn, dễ no hơn.

Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ béo phì thường háu ăn, ăn nhiều lần hơn trẻ bình thường. Trẻ béo cũng thường không thích ăn rau và hoa quả nên khả năng thừa cân ngày càng có xu hướng tăng. Một số gia đình sử dụng thức ăn như là một giải thưởng, như sự biểu lộ tình thương yêu cho con trẻ hoặc vai trò của ông bà trong việc dỗ dành trẻ cũng làm ảnh hưởng tới thu nhận chất dinh dưỡng của trẻ.

Với trẻ nhũ nhi, trẻ bú sữa mẹ ít bị béo phì hơn trẻ bú chai, tỷ lệ trẻ bú mẹ béo phì chỉ bằng hơn một nửa trẻ bú chai (2,8% và 4,5%). Thời gian bú mẹ càng dài thì tỷ lệ béo phì càng giảm (Reuters Health). Một số nghiên cứu cho rằng dường như sữa mẹ có chứa những hoạt chất sinh học hạn chế sự phát triển của tế bào mỡ. Nồng độ insulin trong máu trẻ bú mẹ thấp hơn trẻ bú chai mà insulin có vai trò quan trọng trong việc tích mỡ. Một số tác giả khác thì cho rằng ăn nhân tạo có nhiều protein và muối hơn nên làm tăng áp lực thẩm thấu ở máu gây cảm giác khát kích thích trẻ bú nhiều hơn gây béo. 

3.4. Do yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội

Tình trạng tăng cân có liên quan đến tình hình kinh tế của gia đình và tình trạng xã hội. Ở các nước phát triển người ta thấy có sự liên quan nghịch giữa tình trạng kinh tế xã hội với béo phì nhưng ở các nước đang phát triển thì tầng lớp kinh tế xã hội cao lại dễ béo hơn. 

Các nghiên cứu đều thấy rằng mức thu nhập và chi phí cho trẻ ăn uống của gia đình nhóm TC, BP cao hơn hẳn nhóm chứng. Ở nước ta cũng như các nước đang phát triển, rất nhiều các bậc cha mẹ đều nghĩ rằng trẻ béo là khoẻ mạnh hơn nên thường khuyến khích sự tăng cân của trẻ. Những ảnh hưởng về hành vi, lối sống, tập quán ăn uống từ mẹ dễ tác động trực tiếp lên con.

Trẻ là con một dễ bị béo phì hơn những trẻ có nhiều anh em. Con cả và con út  hoặc chỉ sống với bố hoặc mẹ có nguy cơ trở nên béo phì hơn những anh chị em khác.

3.5. Hoạt động thể lực

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh xem vô tuyến nhiều có liên quan tới tần suất béo phì do làm giảm tốc độ chuyển hoá cơ bản, giảm tỷ lệ trao đổi chất . Xem vô tuyến nhiều là sự kết hợp của giảm lượng tiêu hao  với tăng lượng ăn vào vì khi ngồi xem trẻ hay ăn vặt. Sự giảm vận động tại nơi làm việc và tại gia đình cũng là một yếu tố chính, còn nghiêm trọng hơn so với giảm mức tập thể dục và luyện tập. Trẻ em thành phố không có điều kiện lao động thể lực giúp đỡ bố mẹ, không có đủ sân chơi, thời gian ngồi học, học thêm, xem vô tuyến, chơi games...quá nhiều cũng làm cho tốc độ béo phì tăng lên.

3.6. Trí thông minh

Những trẻ có trí thông minh thấp không có nguyên nhân đặc hiệu có nguy cơ béo phì cao do khả năng hiểu biết và tự kìm chế kém nên dễ ăn quá mức. Mặt khác chúng cũng thường gặp khó khăn khi tham gia các trò chơi và bị bạn bè xa lánh. 

3.7. Ngủ ít

Ngủ ít cũng là một nguy cơ gây béo phì. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng theo một số tác giả có thể những đứa trẻ này sống trong gia đình thiếu điều độ, thiếu hoạt động thể lực tạo nên những sóng điện não thấp khi ngủ. Cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về đêm nên ít ngủ làm giảm sự tiêu mỡ.

4. Cơ chế bệnh sinh béo phì

Nguyên nhân của béo phì do nhiều yếu tố tác động qua lại với nhau, có thể chồng chéo lên nhau nên rất khó phân định.

4.1. Sinh bệnh học của béo phì đơn thuần

Đa số các trường hợp BP thường là BP đơn thuần. BP đơn thuần có rất nhiều yếu tố liên quan tới nguyên nhân của bệnh, song chủ yếu là do thay đổi cân bằng năng lượng, tăng năng lượng thu vào và giảm năng lượng tiêu hao gây tăng tích mỡ. Có thể là do một trong 2 nguyên nhân trên, song đa số là kết hợp cả hai. *

Cân bằng năng lượng: Năng lượng dự trữ = Năng lượng thu vào - Năng lượng tiêu hao

Cân bằng năng lượng dương tính khi năng lượng thu vào lớn hơn năng lượng tiêu hao, sẽ thúc đẩy sự tăng tích trữ năng lượng và trọng lượng cơ thể và ngược lại. Trong các điều kiện bình thường, cân bằng năng lượng có thể dao động nhưng không kéo theo sự thay đổi kéo dài việc dự trữ năng lượng và trọng lượng cơ thể do sự điều chỉnh của các cơ chế sinh lý đa dạng. BP chỉ xảy ra khi có cân bằng năng lượng dương tính trong thời gian dài.

Năng lượng thu vào: được thực hiện nhờ việc chuyển hoá các thức ăn, đồ uống hàng ngày. Điều hoà hành vi ăn uống được thực hiện qua cơ chế thần kinh-nội tiết

Các tín hiệu kích thích ăn ở ngoại vi gồm glucose máu thấp, cortison và chất mới phát hiện là ghrelin

* Ghrelin

Được tổng hợp ở dạ dày, tác dụng kích thích làm tăng lượng ăn vào, được tiết ra khi dạ dày trống và sự tiết này giảm đi khi có thức ăn vào dạ dày. Các tín hiệu hướng tâm gây cảm giác no ngắn hạn bao gồm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là protein, hormone cholecystokinin, bombesin, glucagon, amylin, glucagon-like peptide 1 và insulin. 

* Lep tin

Một con đường nội tiết nữa đã được nghiên cứu là sự liên quan của leptin với BP. Leptin được sản xuất tại mô mỡ và tác động lên hệ thần kinh não bộ qua việc gắn kết với receptor của vùng dưới đồi. Nó có vai trò chính là dẫn truyền thông tin về sự tích luỹ năng lượng trong mô mỡ ngoại vi về vùng dưới đồi, điều hoà trọng lượng cơ thể và là yếu tố no. Đa số người BP có sự kháng với leptin. 

Ngoài việc nhận những tín hiệu từ ngoại vi, vùng dưới đồi còn nhận những thông tin từ các phần còn lại của não bộ để thực hiện việc điều hoà cân bằng năng lượng.   

Nhóm làm giảm ăn gồm: Serotonin, pro-opiomelanocortin (POMC), melanocyte-stimulating hormone (MSH) và cocain-amphetamine-regulated transcript (CART). 

Nhóm gây kích thích ăn gồm: Norepinephrin, neuropeptide Y và Agouti gen - related protein.

Sự phối hợp giữa tín hiệu trung ương và ngoại vi nhờ đơn vị xử lý tại trung ương: Khi đói, dạ dày tăng tiết ghrelin, kích thích tiết GH (growth hormone) từ tuyến yên để tăng sự tiêu mỡ cung cấp năng lượng bù trừ cho dị hoá. Ghrelin cũng kích thích NPY-AgRP để tạo sự đối kháng với MSH-CART dẫn đến kết quả là làm tăng ăn và tăng hiệu quả năng lượng (bằng sự giảm oxid hoá mỡ) để dự trữ năng lượng lại dưới dạng mỡ. Ngược lại khi ăn, insulin và leptin tăng, tăng tổng hợp và chuyển đổi POMC để thành các peptide của nó, gồm MSH, cùng với chất điều hoà thần kinh CART, tác dụng trên MC4R (melano cortin 4 receptor) để giảm cảm giác ngon miệng, làm giảm ăn. Insulin và leptin cũng ức chế trực tiếp NPY-AgRP làm ức chế ăn. 

Điều hoà năng lượng dự trữ và năng lượng tiêu hao, chia làm 3 thành phần:

+ Cảm giác ngon miệng, cảm giác no và nucleus tractus solitarius (NTS): NTS hoạt động như là một nơi điều hoà trung ương để quyết định đói no, tại đây có nhiều neuron có receptor MC4R và leptin, người ta cho rằng nó có khả năng diễn giải các tín hiệu năng lượng ngay cả khi không có vùng dưới đồi.

+ Hệ phó giao cảm: Tăng dự trữ năng lượng, hệ giao cảm sử dụng năng lượng tiêu hao qua đáp ứng sinh nhiệt.

+ Ba thành phần của năng lượng tiêu hao: Hoạt động thể lực, chuyển hoá cơ bản, sinh nhiệt do ăn uống.

Đa số các trẻ TC, BP thường háu ăn, trẻ thu nhận năng lượng từ những thực phẩm có năng lượng cao và do vậy dễ gây nên BP. Schacher (1971) và Nisbett (1972) qua điều tra thấy những trẻ  BP ăn nhiều và ăn nhanh hơn trẻ bình thường. Mendelson (1961) cũng chứng minh được rằng những trẻ BP thường ăn quá mức mà không ý thức được cảm giác đói, một số trẻ ăn ngon miệng quá mức nhưng một số khác lại ăn quá mức mà không đói cũng như không ngon miệng.

Trẻ béo phải thu nhận nhiều calo hơn số calo tiêu thụ để tăng cân nhưng số lượng thu nhận này không nhiều.Theo một số nghiên cứu, chỉ cần 70 calo thêm vào mỗi ngày sẽ có cân bằng năng lượng dương tính để gây nên việc tăng cân rất nhiều theo thời gian. Số lượng nhỏ calo thêm vào này rất khó nhận biết, đặc biệt ở trẻ BP thường ăn các thức ăn nhiều năng lượng nhất là các chất béo, các thực phẩm nhiều chất béo cho lượng calo gấp 2 lần đường nhưng lại đòi hỏi ít calo cho việc tích trữ dưới dạng triglycerid trong tế bào mỡ hơn là chuyển thành axit béo trước khi tích mỡ do đó chúng càng trở nên BP. Mặc dù một số trẻ béo ăn quá mức và đây là nguyên nhân gây BP nhưng không phải tất cả các trường hợp đều như vậy. Có một phạm vi thay đổi rất lớn trong thu nhận năng lượng 7 ngày của trẻ em cùng lứa tuổi và chưa có mối tương quan giữa sự thu nhận năng lượng này với tuổi và cân nặng cơ thể. Trong cùng một nhóm tuổi, một số trẻ bình thường ăn gấp hai lần so với trẻ khác nhưng không BP. Như vậy thu nhận năng lượng một mình nó không thể là nguyên nhân duy nhất gây BP.

Năng lượng tiêu hao: Thông qua chuyển hoá cơ bản, sinh nhiệt do ăn uống và hoạt động thể lực. Ở người lớn có lối sống tĩnh tại, chuyển hoá cơ bản chiếm khoảng 60% tiêu hao năng lượng toàn phần, cho ăn uống 10% và hoạt động thể lực 30%. Ngược lại ở những người làm việc nặng, tiêu hao năng lượng cho hoạt động thể lực là 50%, chuyển hoá cơ bản 40% và cho ăn uống 10%. Như vậy mấu chốt của tiêu hao năng lượng ở mỗi cá thể là hoạt động thể lực. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ mức độ hoạt động hàng ngày của những người béo thấp hơn đáng kể so với người bình thường. 

Tiêu hao năng lượng cho ăn uống (10%), chủ yếu dành cho quá trình tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá và dự trữ trong cơ thể. Phần còn lại dành cho việc hoạt hoá hệ thần kinh giao cảm. Nhiệt lượng tạo ra sau khi tiêu hoá các chất dinh dưỡng là một dạng tiêu hao năng lượng, nhiều hơn với các thực phẩm có thành phần nhiều protein và ít hơn với carbonhydrat, mỡ. Giảm sinh nhiệt do ăn uống đã được mô tả trong một số nghiên cứu về BP. Sự khác nhau tuy nhỏ trong sử dụng năng lượng nhiều năm có thể dẫn tới một cân bằng năng lượng dương tính. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều so sánh giữa người BP và người bình thường trên cùng một thời điểm nên những thay đổi về đáp ứng nhiệt với thức ăn có thể là thứ phát sau béo phì hơn là một bất thường tiên phát. Quan trọng hơn sự đáp ứng nhiệt giữa người BP và người bình thường chỉ nằm trong khoảng 30-50Kcal/ngày, sự khác nhau này có thể dễ dàng cân bằng qua việc giảm thu nhận thức ăn hoặc tăng hoạt động thể lực. Còn về chuyển hoá cơ bản, chưa có bằng chứng nào chứng minh được có sự thấp hơn về CHCB của người béo phì so với người bình thường. 

* Vai trò của gen

Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ BP mang tính gia đình. Nghiên cứu trên 7000 trẻ là con nuôi tại Mỹ, Stunkart và CS (1986) thấy cân nặng của những đứa trẻ này có liên quan đến cân nặng của bố mẹ đẻ mà không liên quan đến cân nặng của bố mẹ nuôi từ bé.  Những cặp sinh đôi cùng trứng mặc dù sống xa nhau từ nhỏ nhưng khi trưởng thành có sự tương quan về BMI cao hơn những trẻ sinh đôi khác trứng. Người ta ước tính gen có thể quyết định từ 25-70% cân nặng của một người nhưng cơ chế chưa rõ ràng. Gen có thể quyết định số lượng và kích thước tế bào mỡ, sự phân bố mỡ trong cơ thể. RMR (resting metabolic rate) thấp, TEF (thermic effect of food) thấp đều có thể dẫn đến BP.

* Giả thuyết về lipoprotein lipase

Lipoprotein lipase là một enzym được tổng hợp từ các tế bào mỡ, bài tiết vào khoang ngoại bào và gắn vào lớp lót của tế bào biểu mô kế cận. Ở vị trí này nó thuỷ phân ra các axit béo từ triglycerid của các lipoprotein giàu triglycerid trong hệ tuần hoàn. Các axit béo này được tiếp nhận bởi các mô mỡ chuyển thành triglycerid và tích trữ. Như vậy lipoprotein lipase tham gia vào việc tích trữ mỡ dư thừa vào mô mỡ. Nồng độ lipoprotein lipase tăng ở các loài gặm nhấm và người BP cho thấy sự tồn tại của giả thuyết này, quan trọng hơn là nồng độ lipoprotein lipase không giảm đi ngay cả khi cân nặng của những người BP giảm. Phát hiện này cũng giải thích được phần nào lý do người BP rất khó giảm cân và dễ dàng tăng cân trở lại

Như vậy có rất nhiều cơ chế với bằng chứng tin cậy dẫn tới BP nhưng trên các cá thể lại tồn tại nhiều yếu tố tác động qua lại lẫn nhau. Các yếu tố này luôn tồn tại và khi có tác động của một yếu tố thuận lợi khác cơ thể sẽ nhanh chóng trở nên BP. Vì vậy bên cạnh các yếu tố không thể thay đổi được thì việc giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ sẽ làm giảm đáng kể sự tăng nhanh tỷ lệ thừa cân, béo phì.

*  Béo phì bệnh lý

+ Béo phì do nội tiết: chủ yếu gồm các bệnh như suy giáp trạng, cường vỏ thượng thận, thiếu hormone tăng trưởng, tăng hormone buồng trứng, thiểu năng sinh dục.

+ Béo phì do bệnh không nội tiết: chủ yếu gồm các bệnh: u nang tuyến tuỵ, bệnh não (u não, do phẫu thuật não, chấn thương sọ não, tia xạ...), dùng corticoide và estrogen liều cao kéo dài.

5. Ảnh hưởng của béo phì đến sức khoẻ của trẻ em

5.1. Biến đổi hình thái

Cơ thể phát triển không cân đối, hậu quả của tích luỹ mỡ thái quá và bất thường và dẫn tới các hình thái sau: 

+ Béo trung tâm, béo hình quả lê, hậu quả của tích luỹ mỡ thái quá ở bụng. Tỷ lệ bệnh và các rối loạn chuyển hoá tăng cao ở những người béo kiểu trung tâm

+ Béo ngoại vi, béo kiểu hình quả táo, loại hình thái này ít gặp hơn, do mỡ tập trung nhiều ở vùng mông và đùi.

5.2. Tăng tỷ lệ mắc bệnh

+ Rối loạn Lipít máu: Tăng cholesterol  máu, giảm HDL-C (High Density Lipoprotein), Tăng tỷ lệ LDL-C (Low Density Lipoprotein), tăng tỷ lệ LDL-C/HDL-C, tăng tỷ lệ bệnh tim mạch 

+ Tăng huyết áp: Tăng cả huyết áp tâm thu và tâm trương khi chỉ số BMI tăng. Nguy cơ tăng huyết áp của người béo phì cao hơn 2,9 lần so với người bình thường, tuổi càng trẻ nguy cơ này càng cao và tăng nguy cơ bệnh mạch vành và đột quỵ.

+ Bệnh đái đường: Béo phì có nguy cơ đái đường típ II cao gấp 3,5 lần so với nguời bình thường, đặc biệt những người béo bụng

+ Bệnh sỏi mật: Nguy cơ mắc bệnh sỏi mật ở người béo phì cao gấp 3-4 lần, đặc biệt ở người béo bụng. Các biến chứng hay gặp là viêm túi mật, viêm đường mật, cơn đau túi mật và tuỵ...

+ Bệnh ung thư: tỷ lệ mắc các bệnh ung thư phụ thuộc hormon, ung thư ruột tăng cao ở những người béo phì

5.3. Rối loạn nội tiết 

Béo phì đặc biệt béo bụng hay gặp rối loạn các hormon như: tăng bài tiết insulin, giảm nồng độ Testosteron ở nam, giảm nồng độ Progesteron ở phụ nữ, tăng sản xuất cortisol, giảm nồng độ hormon tăng trưởng...

Kháng Insulin, đặc biệt hay gặp ở những người béo bụng

5.4. Rối loạn chuyển hoá

Những người béo phì đặc biệt là béo bụng có BMI > 40 có nhiều nguy cơ mắc hội chững X hay hội chứng rối loạn chuyển hoá. Chẩn đoán hội chứng X khi có từ 2 triệu chứng trở lên trong số các triệu chứng sau:

Béo trung tâm

Tăng huyết áp

Rối loạn mỡ máu

Kháng Insulin

Kém dung nạp Glucose

5.5. Các biểu hiện khác

Rối loạn tâm thần

Giả u não

Ngừng thở khi ngủ

Buồng trứng đa nang

5.6. Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội 

Béo phì làm ảnh hưởng tới nền kinh tế do 2 loại hậu quả: Hậu quả trực tiếp và hậu quả gián tiếp. 

Hậu quả trực tiếp phản ánh giá trị có thể không bị mất đi nếu không có bệnh BP, là những chi phí dành cho việc chữa trị bệnh và những bệnh liên quan. 

Hậu quả gián tiếp là việc giảm năng lực sản xuất do những căn bệnh xuất phát từ BP như đái đường, cao huyết áp...

Hậu quả trực tiếp được đánh giá là chiếm ít nhất từ 2-5% ngân sách y tế. Tại Mỹ chi phí cho chữa BP tương đương với chi phí chữa các bệnh tim mạch, ung thu vú và đại tràng. Tại Pháp chi phí này lớn hơn chi phí chữa bệnh tim mạch và đái đường. 

Như vậy BP tăng sẽ làm tăng gánh nặng cho ngành y tế. Vì vậy việc giảm và ngăn chặn không cho tỷ lệ BP gia tăng là công việc khá cấp thiết của ngành y tế công cộng và phải làm ngay từ khi tỷ lệ này vẫn còn thấp.   

6. Phương pháp phân loại thừa cân béo phì

6.1. Phân loại béo phì dựa vào nhân trắc

* Trẻ em từ 0 đến 60 tháng tuổi

+ Phân loại thừa cân, béo phì dựa vào cân nặng theo tuổi ( CN/T ) lấy quần thể tham khảo là NCHS

- Bình thường (tình trạng dinh dưỡng tốt): - 2SD < CN/T < +2SD 

- Thừa cân và Béo phì khi CN/T > + 2SD 

* Trẻ em từ 6 đến 9 tuổi

+ Phân loại thừa cân béo phì dựa vào cân nặng theo chiều cao (CN/CC) lấy quần thể tham khảo là NCHS

- Bình thường( tình trạng dinh dưỡng tốt ): - 2SD < CN/CC < +2SD 

- Thừa cân, béo phì khi:  CN/CC > + 2SD

* Trẻ em từ 10 đến 19 tuổi

Áp dụng một số các phương pháp sau.

+ Cân nặng lý tưởng so với chiều cao (Ideal Body Weight for Height - IBWH)           

IBWH(%)  =  (Cân nặng x 100)/(CN/CC trung bình)  

Béo phì khi IBWH ≥ 120% 

+ BMI  so tuổi và giới theo percentile (BMI: Chỉ số khối cơ thể, Body Mass Index)                

BMI = Cân nặng (kg)/(Chiều cao)2 (m)

Ở trẻ em BMI thay đổi rất nhiều theo tuổi, tăng mạnh trong thời kì nhũ nhi, giảm trong thời kì tiền học đường và tăng trở lại trong thời kì sau.

Thiếu cân: BMI / T < 5%

Thừa cân: BMI / T  > 85%

Béo phì: BMI / T   > 95%

* Với người lớn

+ Thừa cân khi BMI > 25

+ Béo phì khi BMI > 30

* Các phương pháp khác phân loại béo phì (cho cả trẻ em và người lớn)

+ Chiều dày nếp gấp da: đo chiều dày nếp gấp da bằng thước đo đặc biệt sẽ biết được lượng mỡ dự trữ trong cơ thể, thường đo ở nếp gấp cơ nhị đầu, cơ tam đầu, dưới xương bả vai, trên mào chậu.

+ Kết hợp BMI/T với bề dày nếp gấp da cơ tam đầu cánh tay

+ Các phương pháp xác định khối mỡ cơ thể: đo tỉ trọng cơ thể, đo khối lượng mỡ cơ thể, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ... cho kết quả chính xác. Tuy nhiên những phương pháp này thường tốn kém, khó thực hiện và chỉ làm trong những phòng xét nghiệm đặc biệt, không ứng dụng trong thực hành lâm sàng và cộng đồng, đặc biệt không nên sử dụng các chất phóng xạ ở trẻ em.

6.2. Phân loại béo phì theo bệnh học

* Phân loại theo sinh bệnh học

+ Béo phì đơn thuần (ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng

+ Béo phì bệnh lí: Là béo phì có các vấn đề bệnh lí liên quan tới béo.

* Phân loại theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì

+ Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ nhỏ, thiếu niên): Là béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ

+ Béo phì bắt đầu ở người lớn: có tăng số lượng tế bào mỡ nhưng kích thước tế bào mỡ bình thường

+ Béo phì xuất hiện sớm: Là béo phì xuất hiện trước 5 tuổi

+ Béo phì xuất hiện muộn: Là béo phì xuất hiện sau 5 tuổi

Các giai đoạn dễ xuất hiện béo phì  là thời kỳ nhũ nhi, 5-7 tuổi, vị thành niên. Béo phì xuất hiện ở những thời kỳ này làm tăng nguy cơ béo phì trường diễn và các biến chứng khác hơn là béo phì khởi phát muộn, đặc biệt là tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, các rối loạn tinh thần.

7. Nguyên tắc điều trị bệnh béo phì

7.1. Mục tiêu giảm cân 

+ Ngăn ngừa sự tiếp tục tăng cân

+ Giảm cân nặng hiện có

+ Duy trì bền vững cân nặng ở mức hợp lý 

7.2. Thay đổi chế độ ăn với nguyên tắc

+ Giảm năng lượng ăn vào và cải thiện chất lượng bữa ăn, xây dựng chế độ ăn thấp năng lượng, cung cấp đủ Vitamin và khoáng chất.

+ Tạo sự thiếu hụt năng lượng, năng lượng tiêu hao trừ năng lượng ăn vào bằng khoảng 500 đến 1000 Kcal

+ Giảm nguồn năng lượng từ chất béo, chiếm khoảng 15% năng lượng của khẩu phần trong đó có ít A xít béo no, tránh các món xào rán, tránh thực phẩm có nhiều Cholesteron như phủ tạng, các thực phẩm có nhiều chất mỡ

+ Bảo đảm đủ chất đạm, chiếm 20-25% năng lượng trong khẩu phần ăn.

+ Gluxit, sử dụng ngũ cốc nguyên hạt, có nhiều chất xơ, khoai củ

+ Tăng cường rau và quả chín, khoảng 500 gam/24 h

+ Bổ sung đủ Vitamin và khoáng chất

+ Hạn chế muối 

+ Ăn đúng bữa

+ Tránh các thức ăn ngọt như mật, đường, kẹo bánh...

7.3. Nâng cao hoạt động thể lực

+ Với trẻ nhỏ khuyến khích các hoạt động vui chơi ngoài trời

+ Với trẻ lớn tăng cường tập luyện thể dục, rèn luyện lối sống năng động

7.4. Điều trị triệu chứng

+ Tuỳ theo các mức độ rối loạn trên lâm sàng

+ Điều trị bệnh gây béo phì

8. Phòng bệnh béo phì

Nguyên tắc nuôi  dưỡng phòng bệnh béo phì cho trẻ em:

- Tôn trọng tiềm năng di truyền: Trẻ em cần được nuôi dưỡng một cách khoa học để cơ thể phát triển đúng quy luật phù hợp với tiềm năng di truyền , chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng hàng đầu trong phòng chống bệnh béo phì ở trẻ em cộng đồng.

- Trong chế độ ăn hàng ngày lượng chất béo không vượt quá 30 % tổng số năng lượng, các loại đường ngọt không quá 10% tổng năng lượng. Nên sử dụng dầu thực vật, tăng sử dụng các loại rau, hoa quả và các loại khoai củ, chú ý giảm các loại thức ăn chất bột đường như gạo, mì, ngô, sắn ...

- Với trẻ nhỏ: Tăng cường các hoạt động vui chơi ngoài trời

- Với trẻ lớn: khuyến khích rèn luyện thân thể và các hoạt động thể lực đúng mức

- Theo dõi thường xuyên cân nặng, chiều cao để điều chỉnh hợp lý chế độ ăn, học tập,sinh hoạt

- Truyền thông giáo dục dinh dưỡng phải tới tận gia đình, tới tận những người nuôi dưỡng trẻ để họ có kiến thức nuôi con theo khoa học biết quản lý dự trữ và sử dụng thức ăn cho trẻ nhỏ biết hướng dẫn trẻ lớn ăn cái gì, ăn lúc nào để tránh tăng cân.

J.T.B

Tin bài liên quan:

► Bảng phân loại suy dinh dưỡng trẻ em

► Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em

► Phát triển tình thân - vận động trẻ em

► Dinh dưỡng cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi

► Đặc điểm da cơ xương ở trẻ em

► Nuôi con bằng sữa mẹ

► Béo phì trẻ em

► Suy dinh dưỡng