Nuôi con bằng sữa mẹ là một khâu quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Ở nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước đang phát triển, phong trào nuôi con bằng sữa mẹ có xu hướng giảm đi rõ rệt do sự phát triển của công nghiệp hóa đô thị. Các bà mẹ phải làm việc trong các nhà máy, bên cạnh đó thức ăn nhân tạo được quảng cáo rộng rãi trên thị trường nên ảnh hưởng đến việc cho con bú.

Trong những năm gần đây, tỉ lệ các bà mẹ cho con bú tăng lên rõ rệt. Cho đến nay mọi người đã phải thừa nhận sữa mẹ là thức ăn tốt nhất của trẻ dưới 1 tuổi, không có loại thức ăn nào có thể thay thế được. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn hẳn và rẻ hơn nhiều so với nuôi nhân tạo bằng sữa bò.

Ở nước ta nuôi con bằng sữa mẹ là phong tục tập quán cổ truyền, đa số các bà mẹ rất muốn nuôi con bằng sữa của mình, vì thực tế đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các bà mẹ và đứa trẻ nhất là trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay.

1. NHỮNG LỢI ÍCH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

Sữa mẹ được bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ gọi là sữa non. Sữa non sánh đặc màu vàng nhạt, có nhiều năng lượng, protein và vitamin A, đồng thời lại có nhiều chất kháng khuẩn tăng cường miễn dịch cho trẻ.

Sữa non có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc tống phân su nhanh, ngăn chặn vàng da.

Sữa non tiết ra tuy ít nhưng chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của trẻ mới đẻ.

Sau giai đoạn sữa non, sữa mẹ chuyển tiếp thành sữa ổn định.

1.1. Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hóa và hấp thụ

1.1.1. Protein

- Protein của sữa mẹ tuy ít hơn sữa bò nhưng có đủ acid amin cần thiết và tỉ lệ cân đối.

- Protein trong sữa mẹ chủ yếu là lactambumin 80% tổng hợp protein trong sữa mẹ (là prtotein có phân tử lượng thấp) nên khi vào dạ dày sẽ tủa thành các phân tử nhỏ, dễ tiêu hóa. Trái lại protein trong sữa bò chủ yếu là casein, khi vào dạ dày kết tủa thành thể tích lớn khó tiêu hóa.

1.1.2. Lipid

- Sữa mẹ có acid béo cần thiết như acid linoleic, acid linoleic cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sự bền vững các mạch máu của trẻ.

- Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase.

1.1.3. Lactose

Trong sữa mẹ có nhiều hơn sữa bò, cung cấp thêm nguồn năng lượng. Một số lactose vào ruột chuyển thành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng.

1.1.4. Vitamin

Sữa mẹ có nhiều vitamin A hơn sữa bò. Trẻ bú sữa mẹ đề phòng được bệnh khô mắt do thiếu vitamin A.

1.1.5. Muối khoáng

Calci trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng dễ hấp thu hơn và thỏa mãn nhu cầu của trẻ.

Sắt trong sữa mẹ hấp thụ cao hơn sữa bò. Do đó trẻ bú sữa mẹ ít bọ còi xương và thiếu máu hơn.

1.2. Các chất kháng khuẩn trong sữa mẹ

Một số kháng thể từ người mẹ truyền qua rau thai đến bào thai đã giúp cho trẻ mới đẻ có sức đề kháng và miễn dịch một số bệnh đặc biệt trong 4-6 tháng đầu trẻ không mắc các bệnh như sởi, cúm, ho gà.

- Sữa mẹ vô khuẩn, sạch sẽ, trẻ bú trực tiếp ngay, vi khuẩn không có điều kiện phát triển nên trẻ ít bị ỉa chảy.

- Globulin miễn dịch IgA có nhiều trong sữa non và giảm dần trong những tuần sau. IgA tiết thường không hấp thu mà hoạt động tại ruột để chống lại một số vi khuẩn như E.coli và virus.

- Lactoferi là một protein gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn cần sắt để phát triển.

- Lysozym là một enzym có trong sữa mẹ có tác dụng diệt khuẩn.

- Tế bào, lympho bào sản xuất IgA tiết và Interferon có tác dụng ức chế hoạt động của một số virus. Đại thực bào có tính chất thực bào và tiết lysozym, lactoferin. Đại thực bào có thể thực bào Cadida và vi khuẩn, đặc biệt vi khuẩn Gram âm (Clostridium, Klebsiella) những vi khuẩn này có thể là nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh.

- Yếu tố kích thích sự phát triển vi khuẩn Lactobacillus Bifidus.

Lactose: một số lactose vào ruột chuyển thành acid lactic, tạo môi trường cho vi khuẩn Bifidus phát triển, lấn át vi khuẩn gây bệnh như E.coli.

Yếu tố Bifidus là một carbohydrat có chứa gen cần cho vi khuẩn Lactobifidus vi khuẩn gây bệnh phát triển.

Do đặc tính kháng khuẩn của sữa mẹ nên tỉ lẹ mắc bệnh và tử vong ở trẻ bú mẹ thấp hơn trẻ nuôi nhân tạo.

1.3. Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng

Trẻ bú mẹ thường không bị dị ứng, bị eczema như một số trẻ ăn sữa bò vì IgA tiết cùng với đại thực bào có tác dụng chống dị ứng.

1.4. Gắn bó tình cảm mẹ con

Nuôi con bằng sữa mẹ đã giúp cho bà mẹ và trẻ em hình thành mối quan hệ gần gũi yêu thương, trẻ ít quấy khóc. Trẻ bú sữa mẹ thường phát triển trí tuệ thông minh hơn trẻ em ăn sữa bò.

1.5. Bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ

- Giúp cho mẹ chậm có thai

- Trẻ bú sau khi đẻ có tác dụng co hồi tử cung cầm máu cho bà mẹ để phòng chống thiếu máu.

- Giảm nguy cơ ung thư tử cung và ung thư vú ở bà mẹ.

1.6. Chi phí ít hơn trẻ nuôi dưỡng nhân tạo

Nuôi con bắng sữa mẹ rất thuận lợi không phải đun nấu, dụng cụ pha chế, ít tốn kém, tiết kiệm cho người mẹ về kinh tế và thời gian.

2. SỰ BÀI TIẾT SỮA

Sữa mẹ theo cơ chế phản xạ. Khi trẻ bú xung đột cảm giác đi từ núm vú lên não tác động lên tuyến yêu để sản xuất prolactin và oxytocin.

- Prolactin là nội tiết tố của thùy trước tuyến yên có tác dụng kích thích tế bào tiết sữa. Phản xạ này gọi là phản xạ tạo sữa. Prolactin thường sản xuất nhiều vào ban đêm và làm cho bà mẹ thư giãn và buôn ngủ. Vì vậy nên cho trẻ bú đêm. Prolactin còn ngăn cản sự rụng trứng, giúp cho bà mẹ chậm có thai. 

- Oxytocin là nội tiết tố của thùy sau tuyến yên có tác dụng làm co các cơ xung quanh tế bào tiết sữa để đẩy sữa từ các nang sữa theo ống dẫn sữa đến các xoang sữa. Phản xạ này gọi là phản xạ phun sữa. Oxytocin có tác dụng co hồi tử cung cầm máu cho bà mẹ sau đẻ.

Phản xạ oxytocin dễ bị ảnh hưởng bởi những ý nghĩ và cảm giác của người mẹ.

Nếu bà mẹ thấy hài lòng và thương yêu trẻ và tin tưởng sữa mình là tốt thì sẽ hỗ trợ cho phản xạ này. Nhưng nếu bà mẹ lo lắng hoặc nghi ngờ là mình không đủ sữa thì sự hoạt động của phản xạ này bị hạn chế.

3. CHẤT ỨC CHẾ TRONG SỮA MẸ

Sự sản xuất sữa trong vú cũng tự điều chỉnh được. Nếu bú bài tiết nhiều sữa nhưng nếu cho trẻ bú thì chất ức chế cũng thep ra, bú lại tạo ra nhiều sữa hơn. Vì vậy nếu trẻ không bú được thì phải vắt sữa mẹ để vú tiếp tục sản xuất sữa.

Động tác bú của trẻ là vấn đề quan trọng nhất cho nên phải cho trẻ bú thường xuyên và đúng cách, bú nhiều sẽ tạo nhiều sữa.

4. MỘT SỐ YẾU TỐ HỖ TRỢ SỰ TIẾT SỮA

4.1. Ăn uống

Từ khi mang thai đến lúc đẻ trong vòng 9 tháng, người mẹ có thể tăng cân trung bình 12 kg, 3 tháng đầu tăng 1 kg, 3 tháng giữa tăng 5 kg và 3 tháng cuối tăng 6 kg.

Bổ sung thức ăn cho người mẹ trong thời gian có thai và cho con bú rất cần thiết để đảm bảo cho thai nhi phát triển bình thường và người mẹ có khả năng tiết nhiều sữa.

Vì vậy người mẹ cần ăn uống bổ dưỡng hơn bình thường.

Ở nước ta khẩu phần bổ sung chủ yếu là gạo, nếu thức ăn không có đủ nguồn protein động vật thịt cá, trứng sữa thì thay bằng đậu đỗ. Ăn thêm rau xanh và hoa quả chín để cung cấp vitamin A và chất sắt.

Một số món ăn cổ truyền như cháo chân giò, gạo nếp, các bà mẹ thường ăn đều có tác dụng tốt. 

Khi cho con bú chỉ nên hạn chế ăn các loại gia vị vì gây mùi khó chịu, trẻ bú kém. Hàng ngày nên chú ý uống thêm nước hoa quả, nước đun sôi để nguội nhất là mùa hè.

4.2. Lao động hợp lí

Trong thời gian có thai và cho con bú người mẹ không nên làm việc quá sức, mệt mỏi dễ xảy thai, đẻ non. Cần có thời gian nghỉ trước khi đẻ và sau khi đẻ thai nhi phát triển và người mẹ có khả năng phục hồi sức khỏe và cho con bú.

4.3. Tinh thần thoải mái

Nhưng bà mẹ sống thoải mái, ít lo lắng, ngủ tốt, tin tưởng mình có đủ sữa thì vú sẽ  tiết nhều sữa.

4.4. Hạn chế dùng thuốc

Khi cho con bú nên hạn chế dùng thuốc, vì một số thuốc qua sữa dễ gây ngộ độc cho trẻ. Các thuốc tránh thai có osetrogen, thuốc lợi tiểu nhóm thiazid có thể làm giảm sự tạo sữa.

4.5. Sinh đẻ có kế hoạch

Những bà mẹ đẻ nhiều, đẻ dày, sức khỏe giảm sút đều ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa.

Cách cho con bú:

1. Sau đẻ trong vòng nửa giờ người mẹ nên cho con bú ngay, bú càng sớm càng tốt. Bú sớm sẽ kích thích sữa bài tiết sớm và trẻ bú được sữa non.

2. Số lần cho con bú tùy theo yêu cầu của trẻ, có thể từ 8-10 lần trong một ngày, không nhất thiết phải theo đúng giờ giấc. Ban đêm vẫn phải cho con bú.

3. Tùy theo tư thế thoải mái của người mẹ có thể nằm hoặc ngồi cho con bú nhưng phải bế trẻ áp sát vào lòng, đầu và thân trẻ nằm thẳng, bà mẹ đỡ toàn bộ thân trẻ. Miệng của trẻ mở rộng, để ngậm sâu vào hết quầng đen của vú. Môi dưới hướng ra ngoài. Cằm của trẻ tì vào vú mẹ. Má của trẻ căng phồng. 

4. Thời gian mỗi bữa bú tùy theo từng trẻ. Cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo.

5. Cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng sau đẻ.

6. Khi mẹ bị bệnh hoặc trẻ ốm, trẻ thấp cân thì nên vắt sữa cho ăn bằng thìa.

7. Thời gian cho con bú kéo dài trung bình từ 18 -24 tháng. Không nên cai sữa quá sớm hoặc khi chưa đủ thức ăn thay thế hoàn toàn những bứa bú mẹ. Khi trẻ bị bệnh nhất là ỉa chảy không nên cai sữa. Khi cai sữa thì cai từ từ để trẻ có điều kiện thích nghi với chế độ ăn mới.

J.T.B

Tin bài liên quan:

► Bảng phân loại suy dinh dưỡng trẻ em

► Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em

► Phát triển tình thân - vận động trẻ em

► Dinh dưỡng cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi

► Đặc điểm da cơ xương ở trẻ em

► Nuôi con bằng sữa mẹ

► Béo phì trẻ em

► Suy dinh dưỡng