1. NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. Trẻ ăn hoàn toàn sữa mẹ, không ăn thêm bất cứ thứ gì khác kể cả nước.

1.1. Những thay đổi của sữa mẹ

1.1.1. Sữa non

Được tạo ra vào tuần thứ 16 của thai kì

Được tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu sau đẻ, sữa có màu vàng nhạt, sánh đặc

Sữa có năng lương cao nên giúp trẻ chống được đói và rét. Nồng độ protein, vitamin A nhất là nồng độ globulin miễn dịch cao

Sữa non có tác dụng xổ nên tống được phân su nhanh, hạn chế được vàng da kéo dài.

1.1.2. Sữa chuyển tiếp

Lượng đạm, vitamin A...giảm dần, thành phần sữa dần ổn định

1.2. Tính ưu việt của sữa mẹ

1.2.1. Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo nhất, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu

* Protein

- Lượng protein của sữa mẹ tuy ít hơn sữa bò nhưng đầy đủ acid amin cần thiết

- Thành phần protein sữa mẹ chủ yếu là protein nước sữa (lactambumin hay còn gọi là đạm Whey). Khi vào dạ dày sẽ tủa thành các phân tử nhỏ nên thấm dịch tiêu hóa tốt và dễ hấp thu

* Lipid

- Thành phân lipid trong sữa mẹ cao, các acid béo không no là linoleic và linolenic cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sự bền vững của thành mạch

- Trong sữa mẹ có men lipase vì vậy lipid trong sữa mẹ có thể được hấp thu tại dạ dày

* Glucid

- Nhiều hơn sữa bò, cung cấp nhiều năng lượng.

- Chủ yếu là đường β Lactose nên tạo môi trường tốt cho vi khuẩn Bifidus phát triển, một số β Lactose ở trong ruột được chuyển hóa thành acid lactic giúp tăng hấp thu calci, sắt và muối khoáng.

* Vitamin: nhiều vitamin A hơn

* Muối khoáng: calci dễ hấp thu và thỏa mãn nhu cầu của trẻ.

Sắt dễ hấp thu do đó trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ sẽ ít bị thiếu sắt và còi xương.

1.2.2. Sữa mẹ có chất kháng khuẩn

- Globulin miễn dịch: chủ yếu IgA tiết, có nhiều trong sữa non, IgA tiết là IgA không được hấp thu qua niêm mạc ruột mà được hoạt động tại niêm mạc ruột, giúp trẻ chống được bệnh tật ở đường tiêu hóa, giảm tỉ lệ mắc E.coli, virus.

- Lactoferin là protein gắn sắt nên có tác dụng cản trở sự phát triển của vi khuẩn cần sắt

- Các tế bào miễn dịch: lympho bào có tác dụng sản xuất IgA, interferon ức chế sự phát triển của virus

- Lysozym là một enzym có trong sữa mẹ có tác dụng diệt khuẩn

- Yếu tố kích thích sự phát triển của Lactobacillus bifidus, lấn át các vi khuẩn gây bệnh phát triển

1.2.3. Tăng tình cảm mẹ con

1.2.4. Sữa mẹ có khả năng chống lại bệnh dị ứng nhờ IgA nên trẻ bú mẹ ít khi bị chàm, không dung nạp sữa mẹ

1.2.5. Giúp mẹ chống được bệnh tật

Giảm được tỷ lệ ung thư tử cung, ung thư vú.

Giúp mẹ kế hoạch hóa gia đinh.

Giúp co hồi tử cung tốt nên giảm sự mất máu sau đẻ

1.2.6. Rẻ tiền

1.3. Cách cho trẻ bú

Bú sớm trước 30 phút sau khi sinh

Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không ăn thêm bất cứ thức ăn nào khác

Bú theo nhu cầu của trẻ, ít nhất 8 lần/24 giờ

Trẻ được bú mẹ cả ngày và đêm

Cai sữa khi trẻ được 18 - 24 tháng hoặc lâu hơn nếu có thể

Trẻ cần được bú hết cả sữa đầu và sữa cuối

* Tư thế bú đúng:

Đầu và thân trẻ nằm trên một đường thẳng

Trẻ được bế áp sát vào lòng mẹ

Đầu trẻ đối diện với vú mẹ

Mẹ đỡ toàn thân trẻ

* Tư thế ngậm bắt vú đúng:

Miệng trẻ mở rộng

Môi dưới hướng ra ngoài

Trẻ ngậm miệng sâu hết quầng đen của vú

Cằm trẻ tì vào vú mẹ

2. ĂN BỔ SUNG

Ăn bổ sung là cho trẻ ăn các thức ăn khác bổ sung cho sữa mẹ. Trong giai đoạn ăn bổ sung trẻ quan dền với thức ăn gia đình và ở cuối giai đoạn này (thường là khi trẻ được 2 tuổi) sữa mẹ được thay thể hoàn toàn bằng thức ăn gia đình. 

2.1. Thời gian ăn bổ sung và tại sao trẻ cần được ăn bổ sung

- Trẻ cần được ăn bổ sung khi trẻ được 6 tháng tuổi. Đôi khi có thể cho trẻ ăn sớm hơn (4-6 tháng) nếu trẻ vẫn còn đói sau mỗi bữa bú hoặc trẻ không tăng cân

- Khi trẻ được 6 tháng là lứa tuổi thần kinh và cơ nhai phát triển đầy đủ cho phép trẻ nhai và cắn thức ăn

- Trẻ cần được ăn bổ sung để bù đắp khoảng thiếu hụt các chất dinh dưỡng giữa nhu cầu và lượng chất dinh dưỡng mà trẻ được nhận từ sữa mẹ khi trẻ > 6 tháng

- Khi trẻ > 6 tháng, có một khoảng cách giữa năng lượng, sắt, kém, calci, vitamin A...mà trẻ cần với lượng cung cấp từ sữa mẹ. Vì vậy nếu không có sự bù đắp trẻ sẽ bị chậm lớn hoặc ngừng phát triển, thiếu máu, còi xương. Đặc biệt với những trẻ phát triển mạnh

- Nếu cho trẻ ăn sớm quá sẽ có nguy hiểm:

Trẻ sẽ bú ít đi, mẹ sẽ tiết ít sữa và khó khăn hơn trong việc đáp ứng nhu cầu của trẻ

Trẻ nhận được ít các yếu tố miễn dịch từ sữa mẹ, nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng

Thức ăn mới thường ít chất dinh dưỡng hơn sữa mẹ

Các bà mẹ có nguy cơ mang thai sớm hơn khi không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn.

- Nếu cho trẻ ăn muộn hơn:

Trẻ không nhận đủ các chất dinh dưỡng để bù đắp sự thiếu hụt.

Trẻ chậm lớn hoặc ngừng tăng cân

Nguy cơ trẻ bị suy dinh dưỡng và thiếu vi chất

2.2. Số bữa ăn bổ sung

- Trẻ 6 tháng tuổi:

Bú mẹ

Ngày cho trẻ ăn 1 bữa bột loãng 5%, trẻ được ăn đặc dần và số lượng tăng dần 200 ml/1 bữa

Hoa quả nghiền 20 ml

- Trẻ 7-8 tháng:

Bú mẹ

Ngày ăn 2 bữa bột 10%, mỗi bữa 200ml

Hoa quả nghiền 40ml

- Trẻ 9-12 tháng:

Bú mẹ

Ngày ăn 3 bữa bột 10%, mỗi bữa 200ml

Hoa quả nghiền 60ml

- Trẻ 12-24 tháng:

Bú mẹ

Trẻ cần ăn 3 bữa cháo đặc, mỗi bữa 250ml

Hoa quả nghiền 60ml

Ngoài các bữa ăn bổ sung trẻ tiếp tục bú mẹ khi trẻ muốn

* Nếu trẻ không có sữa mẹ, trẻ cần được ăn thêm 2 bữa phụ (là thức ăn giữa các bữa chính vì vậy các bữa phụ phải dễ chế biến, ngon miệng, giàu năng lượng và giàu chất dinh dưỡng).

Các thức ăn phụ có thể là: sữa chua, sữa, súp, bánh bích quy, bánh mì, hoa quả nghiền...

2.3. Thành phần bữa ăn bổ sung phải đủ theo ô vuông thức ăn

Hiện nay, tổ chức quốc tế nghiên cứu về dinh dưỡng đã thống nhất các loại thức ăn bổ sung cho trẻ em được biểu thị bằng ô vuông thức ăn. Trung tâm của ô vuông là sữa mẹ.

Thức ăn trong 4 ô vuông thức ăn gồm:

2.3.1. Thức ăn cơ bản

Gồm ngũ cốc và khoai củ là thức ăn cung cấp năng lượng chính. Ở nước ta ngũ cốc được sử dụng phổ biến là gạo, ngô, khoai, sắn được chế biến thánh bột cho trẻ em.

2.3.2. Thức ăn giàu đạm

Cung cấp protein cho cơ thẻ, chủ yếu là thịt (nên dùng cả nạc và mỡ), cá, trứng, sữa...sử dụng các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, trẻ dễ hấp thu.

Tận dụng các thực phẩm sẵn có tại địa phương như: cua, cá, lươn, nhộng, ếch...

Trong một số trường hợp có thể sử dụng protein từ các loại đậu đỗ (đậu nành, đậu xanh, đậu trắng...). Trong các loại đậu thì đậu nành có hàm lượng protein và lipid cao nhất. Đậu nành có thể chế biến thành sữa, bột, đậu phụ, tào phớ.

2.3.3. Thực phẩm giàu năng lượng

Gồm các loại thực phẩm như mỡ, dầu, bơ, đường. Nên sử dụng dầu thực vật vì trong đó có nhiều acid béo không no, cần cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ. Ngoài ra dầu, mỡ làm tăng hấp thu các vitamin tan trong dầu.

2.3.4. Thực phẩm cung cấp vitamin và muối khoáng

Sử dụng các loại rau quả chú ý các rau quả giàu vitamin A, C...Các khoáng chất như sắt, calci.

Đặc biệt loại thực phẩm này còn cung cấp chất xơ có tác dụn tăng hấp thu các chất dinh dưỡng và chống táo bón ở trẻ em. 

* Trong các bữa ăn bổ sung: các thực phẩm sử dụng phải giàu năng lượng, giàu protein và các vi chất dinh dưỡng (kẽm, sắt, calci, vitamin A, vitamin C)

- Sử dụng các đạm có chất lượng cao như: sữa bò, trứng, cá, các loại thịt gia súc hoặc gia cầm có màu thẫm

- Các thực phẩm có chứa nhiều sắt: gan, các tạng có màu đỏ thẫm, thịt

- Thực phẩm giàu kẽm: lòng đỏ trứng, tôm, cua, cá

- Thực phẩm nhiều vitamin A: sữa mẹ, gan động vật, lòng đỏ trứng, các loại quả có màu da cam, rau có màu xanh thẫm

- Thực phẩm giàu vitamin C: cam, soài, dưa, cà chua, rau xah, xúp lơ

- Thức ăn nhiều calci: sữa và các loại thực phẩm từ sữa – pho mát, sữa chua, bột cá, cá hộp

- Dầu mỡ

* Các thức ăn bổ sung phải sạch và an toàn

- Không có tác nhân gây bệnh (nghĩa là không có vi khuẩn gây bệnh hoặc các sinh vật có hại khác)

- Không có các hóa chất có hại hoặc các chất độc

- Không có xương hoặc các miếng cứng có thể gây tổn thương cho trẻ

- Không quá nóng

- Không quá cay, mặn

- Dễ ăn đối với trẻ

- Có sẵn ở địa phương và giá cả phù hợp

- Trẻ thích ăn.

* Chú ý:

- Khi bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung cho trẻ ăn từ từ, từng ít một, tăng dần để trẻ quen với thức ăn mới

- Các thực phẩm cần được nghiền nhỏ trong giai đoạn đầu, sau đó tăng dần độ thô để kích thích mọc răng

- Khuyến khích trẻ ăn

- Cho trẻ ăn ngay sau khi chế biến xong

- Vệ sinh khi nấu: rửa tay trước khi chế biến thức ăn. Thực phẩm và dụng cụ phải sạch và bảo quản hợp vệ sinh

3. NUÔI CON KHÔNG CÓ SỮA MẸ

Nuôi trẻ bằng các loại sữa khác, thay thế hoàn toàn sữa mẹ. Khi mẹ bị mất sữa hoàn toàn, mẹ bị bệnh quá nặng, bệnh lao tiến triển, mẹ bị HIV...

3.1. Công thức tính lượng sữa hàng ngày

3.1.1. Trẻ sơ sinh < 1 tuần tuổi

X ml = n x 70 khi trẻ có P < 3200g

                = n x 80 khi trẻ có P > 3200g

n là số ngày của trẻ 

3.1.2. Khi trẻ > 1 tuần tuổi

- Số lượng sữa/ngày tính theo trọng lượng của trẻ.

+ Trẻ 2 - 6 tuần: X ml = 1/5 trọng lượng cơ thể.

+ Trẻ 6 tuần đến 4 tháng: X ml = 1/6 trọng lượng cơ thể.

+ Trẻ 4 - 6 tháng: X ml = 1/7 trọng lượng cơ thể.

- Tính theo công thức Skarin: X ml = 800 ± (50 x n) 

+ Nếu trẻ < 8 tuần: X ml = 800 – 50 x (8 - n) ml (Với n là số tuần tuổi)

+ Nếu trẻ > 8 tuần: X ml = 800 + 50 x (n - 2) ml (Với n là số tháng của trẻ)

- Giờ ăn:

 Tuổi  Số bữa

Sơ sinh

 < 3 tháng

3 - 5 tháng

> 6 tháng

 8

7

6

5

3.2. Ăn bổ sung

Giống trẻ có sữa mẹ. Nhưng có thể cho trẻ ăn sớm hơn. Trẻ cần ăn thêm nước hoa quả để tăng lượng vitamin từ tháng thứ 2 sau đẻ.

4. TRẺ > 2 TUỔI

- Trẻ ở tuổi này đã có thể ăn các thức ăn của gia đình, vì trẻ đã có đầy đủ răng, trẻ có thể tự ăn bằng thìa và bát. Trẻ đã biết quan sát người khác và trẻ khác ăn, vì vậy cần cho trẻ ngồi ăn cùng gia đình để khuyến khích trẻ ăn

- Trong bữa ăn không cho trẻ xem vô tuyến hoặc nghe nhạc, làm trẻ phân tán tử tưởng, do đó ảnh hưởng đến ăn uống của trẻ

- Trẻ nhỏ < 5 tuổi tuy đã có răng đủ, động tác nhai và nuốt đã tốt nhưng trẻ dễ bị nghẹn, sặc, vì vậy khi cho trẻ ăn cần có sự quan sát của người lớn, thức ăn cần được thái nhỏ

- Trẻ cần được ăn có giờ để có phản xạ tiết dịch tiêu hóa tốt làm trẻ có cảm giác thèm ăn, quá trình tiêu hóa tốt hơn Trẻ vẫn cần được ăn nhiều bữa, 4-5 bữa để cung cấp đủ năng lượng

- Chế độ ăn của trẻ cần đủ năng lượng và giàu vi chất nhất là calci, vitamin D, kẽm...

- Trong các bữa phụ vẫn cần các thực phẩm giàu dinh dưỡng như sữa, súp...tăng cường hoa quả

* Sự phân chia số calo của thức ăn dựa vào số lần ăn như sau:


5 bữa 4 bưa

Sáng

Giữa trưa

Trưa

Ăn chiều

Ăn tối

30%

10 - 15%

25 - 30%

10 - 15%

20%

30%

 

30 - 35%

10 - 15%

20 - 30%

 Chú ý:

- Thức ăn cho trẻ cần được thay đổi

- Thức ăn cần được nấu nhừ, nát

- Vệ sinh dụng cụ nấu và thực phẩm

- Cho trẻ ăn hoa quả.

J.T.B

Tin bài liên quan:

► Bảng phân loại suy dinh dưỡng trẻ em

► Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em

► Phát triển tình thân - vận động trẻ em

► Dinh dưỡng cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi

► Đặc điểm da cơ xương ở trẻ em

► Nuôi con bằng sữa mẹ

► Béo phì trẻ em

► Suy dinh dưỡng