Vitafact DHA Plus

Viên bổ đa lượng toàn diện cho bà bầu

Ngừa ốm nghén – dự phòng khuyết tật thai nhi

Giá bán: 240.000 VNĐ/hộp 30 viên

* Vitafact DHA Plus là thuốc gì?

Vitafact DHA Plus là viên bổ tổng hợp có chứa 21 vitamin, các khoáng chất, vi lượng thiết yếu đối với phụ nữ mang thai và cho con bú, với công thức được nghiên cứu, thiết kế bởi các bác sĩ sản khoa, các nhà bào chế dược…đã tạo ra sản phẩm Vitafact DHA Plus giúp đáp ứng các nhu cầu về vi chất dinh dưỡng thiết yếu ở phụ nữ mang thai và cho con bú, được bào chế ở dạng viên nang mềm giúp dễ  uống và tăng sinh khả dụng của các vi chất dinh dưỡng.

* Vai trò của sắt và vi chất đối với phụ nữ mang thai

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, hiện nay khoảng 30% dân số thế giới bị thiếu máu, chủ yếu là thiếu máu do thiếu sắt. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng tại nhiều quốc gia. Điều tra của viện dinh dưỡng quốc gia cho thấy 36,8% phụ nữ mang thai tại Việt Nam thiếu máu.

Theo dõi tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai tại TP HCM do trung tâm dinh dưỡng tiến hành, thiếu máu và thiếu vi chất dinh dưỡng hiện là những vấn đề sức khỏe cộng đồng đe dọa sức khỏe mẹ và thai nhi. Tỉ lệ thiểu máu ở phụ nữ mang thai là 17,5% trong đó thiếu máu do thiếu sắt chiếm gần 60%.  Các vi chất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của thai nhi cũng thiếu nhiều ở phụ nữ mang thai. Tỉ lệ thiếu iod ở phụ nữ mang thai là 72,8%, thiếu kẽm là 34,6%. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai gây nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con. Mẹ dễ bị sảy thai, nhau tiền đạo, rau bong non, cao huyết áp thai kì, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hậu sản. Con bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai, thời gian điều trị hồi sức kéo dài, tăng tỉ suất và bệnh suất sơ sinh hơn so với trẻ không thiếu máu. Còn những bà mẹ bị thiếu máu giai đoạn sớm thai kì có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác. Phụ nữ mang thai thiếu acid folic có thể gây những dị tật ống thần kinh của thai nhi như vô sọ, gia đôi cột sống. Thiếu iod ở phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ sảy thai, tai biến sản khoa như sinh non, con suy giáp bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần.

* Thành phần:

  Vitamin D3

  Vitamin E

  Vitamin C

  Vitamin B1

  Vitamin B2

  Vitamin B3

  Vitamin B6

  Folic acid

  Vitamin B12

  Vitamin K

  Iron (iron gluconat)

  Copper

  Selenium

  Magnesium

  Zinc

  Iodine

  Pantotheics acid

  Natriral mixed carotenoid

  Biotin

  Omega - 3 Fish Oil

  DHA (docosahexaenoic acid)

  EPA (eicosapentaenoic acid)

  Tá dược vừa đủ 

  400UI

  4mg

  70mg

  3mg

  2mg

  20mg

  10mg

  1500mcg

  6mcg

  70mcg

  50mg

  1000mcg

  30mcg

  150mcg

  15mg

  140mcg

  6mg

  2mg

  150mcg

  300mg

  36mg

  5mg

  1 viên

* Vitafact DHA Plus có tác dụng thế nào?

- Sắt gluconate: hàm lượng sắt nguyên tố cao (50mg), là dạng sắt dạng hữu cơ, không gây táo bón, sinh khả dụng cao, đáp ứng nhu cầu ở phụ nữ mang thai. Sắt là chát dinh dưỡng quan trọng trong giai đoạn tăng trưởng nhanh như lúc mang thai vì trong giai đoạn này nhu cầu sắt tăng lên rất co so với bình thường (6 lần) bởi vì lượng máu của thai phụ tăng khoảng 1,5 lần nhằm tăng sự cung cấp năng lượng cho người mẹ và  các dưỡng chất để nuôi thai nhi. Do vậy lượng sắt dự trữ hoặc từ chế độ ăn thống thướng rất khó cung cấp đủ và gây nên thiếu hụt sắt trong giai đoạn mang thai.

Thiếu máu thiếu sắt trong giai đoạn mang thai sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ như tăng nguy cơ sinh non, nhiễm trùng, sẩy thai, tăng cân không đủ trong thai kì, xanh xao, mệt mỏi, bào thai kém phát triển, tăng biến chứng hậu sản như băng huyết sau sinh. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị thiếu máu dễ bị thiếu máu, thiếu sắt trong những năm đâu cuộc sống, cân nặng lúc sinh thấp, dễ bị nhiễm trùng, kém phát triển về thể lực và trí lực, chỉ số thông minh thấp. Do vậy, bổ sung thường xuyên viên sắt với hàm lượng 30-60mg mỗi ngày cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là phụ nữ dự định mang thai sẽ giúp cơ thể khỏe mạng và đủ lượng dự trữ sắt cần thiết để bước vào giai đoạn mang thai.

- Acid folic, Vitamin B12: nhu cầu acid folic trung bình 3mcg/kg trọng lượng cơ thể, đpá ứng được nhu cầu người trưởng thành, tương đương 180-200mcg/ngày. Nhu cầu đối với acid folic tăn gleen trong khi mang thai, cần tới 400mcg/ngày để dpads ứng được sự gia tăng của quá trinh phân chia tế bào cũng như tăng kích thước tử cung. Acid folic cần cho sự tổng hợp nhân tế bào aicd deoxyribonucleic (AND), acid ribonucleic (ẢN) và protein, hình thành nhau thai. Số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo khối lượng máu tăng, tăng trưởng của bào thai và do tưng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai.

Vitamin B12 tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu. hậu quả của thiếu hụt acid folic và vitamin B12 ở phụ nữ mang thai là:

+ Thiếu máu hồng cầu khổng lồ

+ Nguy cơ sảy thai cao

+ Sinh non, sinh con nhẹ cân

+ Có mỗi liên hệ giữa việc thiếu acid folic, vitamin B12 với khuyết tật ống thần kinh của thai nhi (vô sọ, nứt đốt sống, úng não thủy).

Những phụ nữ nào dễ bị thiếu acid folic và vitamin B12: tất cả các bà mẹ đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, não úng thủy, vô sọ…bất kể họ bao nhiêu tuổi, họ có con lần đầu hay đã có nhiều con khỏe mạnh, ngay cả khi sức khỏe của chính bà mẹ rất tốt.

Tuy vậy có một số bà mẹ bắt buộc phải theo chế độ ăn bổ sung acid folic và vitamin B12 chặt chẽ như:

+ Tình trạng dinh dưỡng kém, sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đối, nghèo vi chất dinh dưỡng.

+ Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi, lo lắng hoặc chán ăn.

+ Mới sảy thai hay thai chết lưu.

+ Làm việc vất vả hay bị căng thẳng thần kinh trầm trọng

+ Phụ nữ đẻ dày, có nhiều con, có thể để lại hậu quả trình trạng dinh dưỡng kém do vậy rất cần đủ acid folic và vitamin B12 trước khi thụ thai.

+ Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh

+ Nghiện rượu hay thuốc lá

Do vậy bổ sung acid folic và vitamin B12 ngay khi có ý định có thai là một trong những điều quan trọng nhất mà người phụ nữ có thể làm để bảo vệ đứa con của mình tránh khỏi dị tật bẩm sinh. Đối với phụ nữ dự định có thai, nhiều nghiên cứu mới nhất cũng đều cho thấy bổ sung acid folic với hàm lượng tổi thiểu 400mcg/ngày có thể giảm được từ 50%-70% các dị tật do khiếm khuyết ống thần kinh gây ra. Việc bổ sung acid folic và vitamin B12 vào thực phẩm ở một số nước phương tây đã giúp làm giảm tần suất dị tật ống thần kinh từ 50% đến 70%. Mới đây các nhà khoa học ở ireland đã tiếp tục nghiên cứu để tìm thêm những yếu tố nguy cơ khác dẫn đến dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Bác sỹ Anne M.molloy của trường đại học Triniti, Dublin, Ireland chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cho biết vitamin B12 có liên quan về chuyển hóa với folate và các nghiên cứu trước đây cho thấy có tình trạng thiếu vitamin B12 ở những bà mẹ sinh con dị tật ống thần kinh.

- Kẽm nguyên tố 15mg: kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym khác nhau, kẽm duy trì tổng hợp protein cho cơ thể, giúp phân chiaw, sinh trưởng và tái tạo tế bào một cách bình thường, giúp bào thai tăng trưởng và phát triển cho nên thiếu kẽm ở bà mẹ mang thai không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến thai nhi. Khi thiếu kẽm, bà mẹ mang thai gnhens nhiều hơn với các biểu hiện buồn nôn, nôn, chán ăn, mệt mỏi, dự trứ năng lượng tạo sữa sau này sẽ thấp, bà mẹ sẽ bị thiếu sữa, mất sữa nuôi con sau sinh, dễ bị sảy thai, đẻ non, dễ bị tai biến sản khoa khi sinh. Ảnh hưởng đến thai nhi: thai chậm phát triển dẫn đến suy dinh dưỡng bào thai, thai nhi nhẹ cân, chiều cao thấp, thai dễ bị dị dạng. trong giai đoạn nuôi con bú, nếu thiếu kẽm bà mẹ ăn uống kém, mệt mỏi, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn giấc ngủ…dẫn đến thiếu sữa, mất sữa đây cũng là nguyên nhân dẫn tới suy dinh dưỡng ở trẻ em. Phụ nữ có thai và cho con bú là một tong những đối tượng tăng nhu cầu về kẽm nhưng lại không được đáp ứng dẫn tới tình trạng ốm nghẽn ở bà mẹ làm cho việc ăn uống không đầy đủ dẫn đến thiếu kẽm, khi thiếu kẽm lại làm tình trạng ốm nghẽn tăng lên cứ như vậy đã tạo thành vòng xoắn bệnh lý rất khó gỡ ra được.

Vì vậy, để tránh tình trạng thiếu kẽm trong thời kì mang thai và cho con bú các bà mẹ phải ăn các thực phẩm giàu kẽm từ trước khi mang thai từ 2-3 tháng cũng như trong suốt thời kì mang thai và cho con bú.

- Omega-3 là tên đặt cho một nhóm acid béo không no đa nối đôi (ABKNĐNĐ). Các ABKNĐNĐ không những là thành phần cấu trúc xây mô và tế bào thai nhi mà còn ảnh hưởng trên thai nghén và quá trình sinh sản. Hàm lượng đầy đủ Omega 3 trong khẩu phần ăn có thể giúp làm tăng trọng lượng lúc sinh, đây là một chỉ số quan trọng trong dự báo sức khỏe của em bé sau này. Omega 3 đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và các chức năng của não ở bào thai, ở trẻ em và đặc biệt quan trọng ở phụ nữ mang thai và cho con bú. DHA và EPA là hai acid béo thuộc Omega 3. DHA thiết yếu cho sự phát triển thị lực và thần kinh ở trẻ em. DHA được kết hợp chặt chẽ với mô thần kinh của bào thai trong tử cung cho đến lúc chào đời. Hàm lượng DHA thiếu hụt ở võng mạc và não của bào thai sẽ gây giảm chức năng thị lực và khả năng học tập kém thông qua rất nhiều cơ chế. EPA là tiền chất chuyển hóa của DHA và có thể được chuyển đổi thành prostaglanding, thromboxane và sản phẩm chuyển hóa lipoxygenase.

- Vitamin C 70mg: là chất kết dính giữa các tế bào, có tác dụng quan trọng trong quá trình hấp thu vận chuyển và ứng dụng sắt nguyên tố trong máu. Ngoài ra còn kích hoạt tác dụng nuốt chửng (phagoclytosis) của bạch cầu, tăng khả năng chống lại bệnh tật. Khi thiếu hụt vitamin C nghiêm trọng, sức dính của thành vách vi mạch (verysmall blood vessel) kém dễ sảy ra xuất huyết nhiều chỗ, đe dọa tới thai nhi. Vitamin C còn có tác dụng tăng cường hấp thu sắt ở ruột non.

- Magnesium nguyên tố 150mg: đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hàng trăm phản ứng sinh hóa. Magnesium ngoại bào rất quan trọng cho việc dẫn truyền các xung động thần kinh và sự co cơ. Magnesium điều hòa các hoạt động hệ thần kinh cơ giúp chống tiền sản giật từ đó ngăn ngừa đẻ non, giảm tỉ lệ tử vong trong sinh nở. Sự có mặt của magnesium cần thiết cho sự biến dưỡng của canxi, phospho, Na và K giúp hình thành hệ xương khỏe mạnh cho thai nhi. Mg góp phần quan trọng trong chuyển hóa Glucid Lipid thành năng lượng do đó giúp chống mệt mỏi suy nhược.

- Natural mixed carotenoid: là dạng tự nhiên chiết xuất từ tinh dầu gấc, hàm lượng cao 2mg, đáp ứng nhu cầu vitamin A của bà bầu, ưu điểm nổi bật là dạng tan trong nước, không gây tích lũy và gây tác dụng ngộ độc như Vitamin A. Carotenoid làm tăng cường khả năng của thị giác, làm sức đề kháng, tăng khả năng chống oxi hóa. Đối với phụ nữ có thai ba tháng đầu, nếu thừa vitamin A có thể khiến thai nhi bị tăng áp lực hộp sọ và do đó dẫn tới dị dạng thai nhi. Do đó sử dụng tiền chất beta-caroten (để thay thế vitamin A) cho bà bầu sẽ đặc biệt an toàn cho bà mẹ và thai nhi do tuyệt đối tránh được các tác dụng tiêu cực do thừa vitamin A gây nên.

- Vitamin b6 10mg: đây là hàm lượng đã được chứng minh làm giảm nôn khan do ốm nghén.

- Vitamin K: là thành phần quan trọng trong quá trình đông máu của cơ thể, thiếu vitamin K dẫn tới hiện tượng chảy máu trong, tổn thường hộp sọ, biến dạng mặt ở thai nhi, là thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của trẻ. Vitamin K giúp tăng cường hấp thu canxi, giúp xương chắc khỏe.

- Vitamin D: đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xương. Vitamin D tham gia vào quá trình hấp thu canxi, phospho ở ruột, điều hòa việc tổng hợp và bài tiết nội tiết tố phó giáp trạng (PTH) làm tăng cường hấp thu canxi, phospho ở thận, làm tăng cường hấp thu canxi và phospho, kích thích sự khoáng hóa của xương giúp hình thành bộ xương chắc khỏe. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, còi xương ở trẻ bắt đầu rất sớm ngay trong thời  kì thai nghén mà do nguyên nhân chính là do bà mẹ bị thiếu vitamin D và canxi trong thời kì mang thai. Thiếu canxi và vitamin D ở mẹ tiếp tục gây nên rối loạn chuyển hóa canxi và bệnh còi xương ở thai nhi cũng như những năm đầu sau sinh. Người ta thấy rằng trọng lượng của thai nhi tăng lên gấp đôi trong ba tháng cuối của thời kì thai nghén trong đó bộ khung xương với mật độ xương tăng lên gấp ba lần. Cơ và tế bào thần kinh của thai nhi cũng phát triển rất mạnh, nếu người mẹ không cung cấp đủ canxi và vitamin D trong ba tháng cuối của thai kì sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hóa xương của thai nhi. Rối loạn chuyển hóa xương thường song hành với bệnh suy dinh dưỡng thời kì bào thai, trẻ đẻ ra thấp bé, nhẹ cân, kém phát triển về thể lực, trí tuệ, giảm miễn dịch…Trong những tháng đầu sau khi sinh, trọng lượng của trẻ cũng phát triển rất nhanh, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng tăng cao và hoàn toàn phụ thuộc vào sữa mẹ. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những bà mẹ bị thiếu vitamin D trong thời kì mang thai sẽ có hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thấp, thậm chí giảm một nửa so với những bà mẹ có đủ vitamin D, con của những người mẹ này ngay khi sinh ra đã có dấu hiệu mềm xương, thóp rất rộng, suy dinh dưỡng…Ngay cả ở trẻ được sinh đủ tháng, cân nặng khi sinh ra là bình thường, nồng độ vitamin D trong máu cũng giảm thấp nhất vào ngày thứ 3, thứ 4 sau sinh, nồng độ này giảm và cạn kiệt ở những người mẹ không được cung cấp đầy đủ vitamin D trong khi mang thai.

- Iodine: đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất cũng như sản xuất hormone tuyến giáp – hormone kiểm soát nhiều quá trình chuyển hóa như tăng trưởng, chuyển hóa năng lượng, hình thành xương và phát triển trí não. Thiếu iod trước và trong thai kì có thể dẫn tới hội chứng đần độn ở trẻ nhỏ.

- Vitamin E:  khi phát hiện ra vitamin E và nhận thấy nó có tác dụng tốt với thai nghén, người ta đặt tên khoa học cho vitamin E là Tocoferol theo tiếng hi lạp nghĩa là mang lại sự sinh sản. Đối với phụ nữ mang thai, vitamin E góp phần thuận lợi cho quá trình mang thai, sự phát triển của thai nhi và giảm được tỉ lệ sảy thai và sinh non do đã trung hòa hoặc làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể.

- Các vitamin nhóm B: (vitamin B1,2,3,5,6, 8, PP) tham gia vào quá trình đồng hóa và dị hóa, giúp cơ thể nhận được năng lượng tối ưu từ các chuyển hóa cacbon hydrate, chất béo và protein… thông qua vai trò của các coenzym.

- Vitamin C, vitamin E và selenium: là các chất oxi hóa mạnh, giúp cơ thể tăng sức đề kháng, ngăn ngừa hội chứng tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén, giảm tỉ lệ sinh non sảy thai.

- Đồng (copper): tham gia vào các phản ứng chuyển hóa, tạo năng lượng.

* Vitafact DHA Plus được sử dụng trong những trường hợp nào?

- Phụ nữ chuẩn bị mang thai, đang mang thai và cho con bú.

- Người bị thiếu máu do thiếu sắt.

* Vitafact DHA Plus được sử dụng với liều lượng như thế nào?

- Phụ nữ chuẩn bị mang thai: ngày uống 1 viên sau bữa ăn chính.

- Phụ nữ đang mang thai và cho con bú: ngày uống 1 - 2 viên ngay sau bữa ăn chính, liên tục trong các tháng thai kì và sau khi sinh 6 tháng.

- Người bị thiếu máu do sắt: ngày uống hai viên, sáng 1 viên, chiều 1 viên sau bữa ăn hoặc theo chỉ định của bác sĩ.

* Vitafact DHA Plus không được dùng trong những trường hợp nào?

- không sử dụng ở các đối tượng biết mẫn cảm với bất kì thành phần nào của sản phẩm Vitafact DHA Plus.

* Vitafact DHA Plus nên sử dụng với chú ý, thận trọng trong những trường hợp nào?

 Cần phải chú ý, thận trọng khi sử dụng Vitafact DHA Plus với các sản phẩm khác có chứa một hoặc nhiều thành phần giống của Vitafact DHA Plus, đặc biệt là các vitamin tan trong dầu như vitamin D, vitamin E và sắt.

* Vitafact DHA Plus có thể có các phản ứng không mong muốn nào?

 Hầu như không có tác dụng không mong muốn nào xảy ra khi sử dụng ở liều khuyến cáo, rất hiếm có phản ứng rối loạn tiêu hóa, phân đen hoặc đau bụng bất thường

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

                                                                                                               J.T.B

Tin bài liên quan:

Vitafact DHA Plus: viên đa sinh tố dành cho phụ nữ có thai và cho con bú

Bổ sung canlci tối ưu Fercalmin